ĐIỂM DANH 15 CÔNG TY MẸ CÓ TỶ LỆ NỢ PHẢI TRẢ/VỐN CHỦ SỞ HỮU LỚN HƠN 3 LẦN

Đứng đầu là Công ty mẹ – TCT Đầu tư phát triển hạ tầng Cửu Long có tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu là 198,95 lần, tiếp đến là Công ty mẹ – TCT XNK tổng hợp Vạn Xuân:30,87 lần; Công ty mẹ – TCT Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam: 8,81 lần.
        Công ty mẹ – TCT Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu là 8,81 lần

Theo báo cáo hợp nhất của các tập đoàn, tổng công ty (TĐ,TCT), tổng số nợ phải trả năm 2019 là 1.448.622 tỷ đồng, tương đương với thực hiện năm 2018, chiếm 53% tổng nguồn vốn của các TĐ, TCT. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2019 là 1,14 lần (Công ty mẹ là 0,74 lần); có 15 Công ty mẹ có tỷ lệ Nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần.

Trong đó, tỷ lệ Nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu của Công ty mẹ – TCT Đầu tư phát triển hạ tầng Cửu Long là198,95 lần; Công ty mẹ – TCT XNK tổng hợp Vạn Xuân: 30,87 lần; Công ty mẹ – TCT Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam: 8,81 lần; Công ty mẹ – TCT Thái Sơn: 8,17 lần; Công ty mẹ – TCT Đông Bắc: 6,76 lần; Công ty mẹ – TCT Xăng dầu quân đội: 4,72 lần; Công ty mẹ – TCT Xây dựng Lũng Lô: 4,71 lần; Công ty mẹ – TCT Xây dựng Trường Sơn: 4,58 lần; Công ty mẹ – TCT Kinh tế kỹ thuật công nghiệp quốc phòng: 4,54 lần; Công ty TNHH MTV Ứng dụng kỹ thuật và sản xuất (4,30 lần); Công ty mẹ – TCT 319: 3,86 lần; Công ty mẹ – TCT 789: 3,64 lần; Công ty mẹ – TCT Thành An: 3,38 lần; Công ty mẹ – TCT Tài nguyên và Môi trường: 3,33 lần; Công ty mẹ – TCT Phát triển nhà và đô thị – Bộ Quốc phòng: 3,08 lần.

Báo cáo cho thấy, cơ cấu nợ phải trả của các TĐ, TCT gồm nợ vay từ ngân hàng, huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp và nợ nước ngoài. Cụ thể: Nợ vay (vay ngắn hạn và dài hạn) từ các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng trong nước (NHTM & TCTD) của các TĐ,TCT là 429.153 tỷ đồng, tăng 16% so với thực hiện năm 2018. Một số TĐ,TCT có số nợ vay từ các NHTM & TCTD tương đối lớn như: TĐ Điện lực VN (117.551 tỷ đồng); TĐ Dầu khí QGVN (166.180 tỷ đồng); TĐ CN Than – Khoáng sản VN (38.551 tỷ đồng); TĐ Viễn thông quân đội (18.095 tỷ đồng); TĐ Hóa chất VN (24.506 tỷ đồng); TCT CN Xi măng VN (9.887 tỷ đồng)…

Một số Công ty mẹ thực hiện huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp, lũy kế giá trị trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành tính đến 31/12/2019 của các Công ty mẹ là 2.696 tỷ đồng, bao gồm: Công ty mẹ – TĐ CN Than – Khoáng sản VN phát hành 2.000 tỷ đồng; Công ty mẹ – TCT Đầu tư phát triển nhà và đô thị phát hành 447 tỷ đồng; Công ty mẹ -TCT Đông Bắc phát hành 249 tỷ đồng.

Báo cáo hợp nhất, nợ vay nước ngoài của các TĐ,TCT là 341.591 tỷ đồng (vay ngắn hạn là 5.694 tỷ đồng; vay dài hạn là 335.897 tỷ đồng), giảm 18% so với thực hiện năm 2018. Trong đó: (i) vay lại vốn ODA của Chính phủ là 156.390 tỷ đồng; (ii) Vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh là 146.243 tỷ đồng; (iii) Vay nước ngoài theo hình thức tự vay, tự trả là 20.783 tỷ đồng; (iv) Còn lại là các hình thức huy động khác.

Theo Minh Châu/taichinhdoanhnghiep.net.vn

Dẫn theo nguồn: https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/diem-danh-15-cong-ty-me-co-ty-le-no-phai-tra-von-chu-so-huu-lon-hon-3-lan-d15947.html

Trả lời